https://jfst.vn/index.php/ntu/issue/feed Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang 2025-12-29T16:36:35+00:00 Open Journal Systems <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Tạp chí Khoa học - Công nghệ thủy sản ISSN: 1859 - 2252 (được Bộ Văn hóa Thông tin cấp giấy phép xuất bản ngày 10/4/2003 tại quyết định số 112/GP-BVHTT) là cơ quan ngôn luận về khoa học của Trường Đại học Nha Trang, xuất bản 4 số/năm với ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt và tiếng Anh, được phát hành rộng rãi và miễn phí. Tạp chí được phát hành trên toàn quốc: doanh nghiệp trong ngành thủy sản, kinh tế biển, các sở khoa học - công nghệ trên toàn quốc, các trường đại học, viện nghiên cứu trong khối nông - lâm - ngư…và một số Trường Đại học, Viện nghiên cứu nước ngoài.</span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Tôn chỉ, mục đích của Tạp chí:</span></span></p> <p style="text-indent: 1.0cm; text-align: start; box-sizing: border-box; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; orphans: 2; widows: 2; -webkit-text-stroke-width: 0px; text-decoration-thickness: initial; text-decoration-style: initial; text-decoration-color: initial; word-spacing: 0px; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span style="box-sizing: border-box;"><span class="noidung"><span style="color: black;">- Thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển thủy sản.</span></span></span></p> <p style="text-indent: 1.0cm; text-align: start; box-sizing: border-box; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; orphans: 2; widows: 2; -webkit-text-stroke-width: 0px; text-decoration-thickness: initial; text-decoration-style: initial; text-decoration-color: initial; word-spacing: 0px; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span style="box-sizing: border-box;"><span class="noidung"><span style="color: black;">- Công bố, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực thủy sản nhằm phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu, giảng dạy của nhà Trường;</span></span></span></p> <p style="text-indent: 1.0cm; text-align: start; box-sizing: border-box; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; orphans: 2; widows: 2; -webkit-text-stroke-width: 0px; text-decoration-thickness: initial; text-decoration-style: initial; text-decoration-color: initial; word-spacing: 0px; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span style="box-sizing: border-box;"><span class="noidung"><span style="color: black;">- Thông tin các kết quả nghiên cứu khoa học về thủy sản ở trong và ngoài nước;</span></span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Với mong muốn thực sự trở thành diễn đàn của những người hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực thuỷ sản, Ban biên tập Tạp chí rất mong muốn nhận được sự cộng tác, trao đổi học thuật của các tổ chức, cá nhân trên các lĩnh vực nghiên cứu về khoa học công nghệ thủy sản.</span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Các bài báo đăng trên Tạp chí đã được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước công nhận và tính điểm công trình khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư hàng năm.</span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">Năm 2025, Tạp chí đã được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước công nhận và tính điểm công trình (theo Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN ngày 11/7/2025) ở các chuyên ngành:</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">1. HĐGS ngành, liên ngành Chăn nuôi – Thú y – Thủy sản: 1,0 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">2. HĐGS ngành, liên ngành Cơ khí – Động lực: 0,5 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">3. HĐGS ngành, liên ngành Giao thông vận tải: 0,25 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">4. HĐGS ngành, liên ngành Hóa học – Công nghệ thực phẩm: 0,5 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">5. HĐGS ngành, liên ngành Sinh học: 0,5 điểm</span></span></strong></p> https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/553 Nghiên cứu ban đầu về khả năng sử dụng sợi basalt thay thế sợi thủy tinh ứng dụng trong đóng tàu composite 2025-07-03T00:53:13+00:00 Hùng Trần Doãn hungtd@ntu.edu.vn Mai Đình Nam maidinhnam@gmail.com <p><em>Trong nội dung bài báo này, kết quả nghiên cứu các tính chất cơ bản của vật liệu composite trên nền vật liệu Polyester không no, Reversol P9509NW, gia cường xấp xỉ 57 % về khối lượng từ vải sợi Basalt Fabric Type TBK-100 được cung cấp bởi Basfiber®, Kamenny Vek, Russia do đối tác nghiên cứu từ Khoa Cơ khí, Trường Đại học Kỹ thuật Liberec, Cộng hòa Séc hỗ trợ sẽ được trình bày. Kết quả về độ bền kéo, độ bền uốn, độ mài mòn và độ hấp thụ nước được dùng để so sánh đối chứng với các tính chất của vật liệu composite gia cường bằng 01 chủng loại sợi thủy tinh (khoảng 55% về khối lượng) đang được sử dụng trong hoạt động đóng tàu, đồng thời viện dẫn với yêu cầu kỹ thuật của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Việt Nam QCVN 56:2013/BGTVT về phân cấp và đóng tàu làm bằng chất dẻo cốt sợi thủy tinh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy vật liệu composite gia cường bằng sợi basalt được chọn có cơ tính xấp xỉ bằng hoặc tốt hơn về độ bền kéo và độ bền uốn, và tương đương về độ mài mòn so với vật liệu composite gia cường bằng sợi thủy tinh. Từ đó cho thấy tiềm năng sử dụng sợi basalt</em> <em>thay thế sợi thủy tinh ứng dụng trong đóng tàu composite, hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam.</em></p> <p><strong>Từ khóa</strong>: vật liệu composite, sợi basalt, sợi thủy tinh, nhựa polyester không no.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>In this paper, the essential properties of composite based on unsaturated Polyeste</em><em>r matrix, Reversol</em><em> P9509NW, reinforced by Basalt Fabric Type TBK-100 around 57% (wt%) from Basfiber®, Kamenny Vek Advanced Basalt Fiber company (Russia) which was donated by research cooperator – Faculty of Mechanical Engineering, Technical University of Liberec, Czech Republic. The tensile, flexural, abrasion and water absorption properties were in comparison with the properties of typical composite reinforced by one</em><em> kind of glass fiber (5</em><em>5% by weight) which is used in shipbuilding, in accordance to QCVN </em><em>56:2013/BGTVT at once. The results show that the mechanical properties of composite reinforced by the basalt fiber are virtually identical</em><em> or better than those of glass fiber, the water absorption properties are almost the same. Based on the preliminary results, we can temporarily conclude that basalt fibers are potential</em><em> alternative to glass</em><em> fibers in shipbuilding</em><em>, moving towards sustainable development in Viet</em><em> Nam.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> composite material, basalt fabric, glass fiber, unsaturated polyester resin.</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/588 Xây dựng mô hình thương mại điện tử phân phối thủy sản đặc trưng Khánh Hòa theo hướng bền vững 2025-11-03T02:29:36+00:00 Lê Vũ Hoàng Giang tuanhd@ntu.edu.vn Tuấn Hồ Đức tuanhd@ntu.edu.vn Huỳnh Gia Hoà tuanhd@ntu.edu.vn <p><em>Bài báo này trình bày một mô hình nghiên cứu tích hợp thương mại điện tử (thương mại điện tử (TMĐT)) với Logistics xanh nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa. Trên cơ sở phân tích thực trạng sản xuất, phân phối và nhu cầu của các bên liên quan, nền tảng SeaFood được đề xuất như một giải pháp số hóa toàn diện, kết hợp mạng lưới phân phối trực tuyến với hệ thống quản lý vận chuyển theo thời gian thực (real-time hệ thống quản lý vận tải (TMS)). Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát thực địa, phân tích SWOT và đánh giá chi phí – lợi ích nhằm kiểm chứng tính khả thi của mô hình. Kết quả cho thấy việc áp dụng TMĐT cùng Logistics xanh không chỉ giúp giảm chi phí nhiên liệu và phát thải CO₂ mà còn tăng tính minh bạch trong quản lý đơn hàng, tối ưu hóa kho lạnh và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng. Đồng thời, mô hình cũng đề xuất lộ trình triển khai theo giai đoạn, phù hợp với điều kiện hạ tầng Logistics và năng lực công nghệ hiện tại của địa phương. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ứng dụng công nghệ số trong phát triển bền vững ngành thủy sản.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Thương mại điện tử, Logistics xanh, chuỗi cung ứng thủy sản, Khánh Hòa, nền tảng SeaFood.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p> <em>This paper introduces a research model that integrates e-commerce and green Logistics to enhance the efficiency of the seafood supply chain in Khanh Hoa province. Based on an in-depth analysis of production practices, distribution channels, and stakeholder requirements, the SeaFood platform is proposed as a comprehensive digital solution combining an online distribution network with a real-time transportation management system (TMS). The research methodology involves field surveys, SWOT analysis, and cost–benefit evaluation to validate the feasibility and effectiveness of the model. Findings indicate that the adoption of e-commerce, combined with green Logistics practices, not only reduces fuel costs and CO₂ emissions but also enhances transparency in order management, optimizes cold storage utilization, and fosters consumer trust. Furthermore, the study outlines a phased implementation roadmap tailored to the region's current Logistics infrastructure and technological capacity. The proposed model demonstrates strong potential for contributing to both sustainable development and digital transformation of Vietnam's seafood industry, providing practical insights for policymakers, enterprises, and researchers.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> E-commerce, green Logistics, seafood supply chain, Khanh Hoa, SeaFood platform.</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/595 Ảnh hưởng tiềm tàng của dược phẩm trong thủy vực – lưu ý đối với các loại được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản 2025-10-06T01:00:21+00:00 Nguyễn Văn Quỳnh Bôi ngatnm@ntu.edu.vn Trương Thị Bích Hồng ngatnm@ntu.edu.vn Nga Tôn Nữ Mỹ ngatnm@ntu.edu.vn <p><em>Sự phát thải dược phẩm ra môi trường nước đang trở thành vấn đề toàn cầu do những tác động tiềm tàng đến hệ sinh thái thủy sinh. Nguồn phát sinh chủ yếu là nước thải sinh hoạt, bệnh viện và hoạt động công nghiệp, nông nghiệp bao gồm cả nuôi trồng thủy sản. Trong môi trường nước, dược phẩm có thể trải qua các quá trình biến đổi như quang phân, thủy phân, phân hủy sinh học hoặc tích lũy trong trầm tích. Mặc dù nồng độ thường thấp (ng/L đến µg/L), nhiều trường hợp vượt ngưỡng an toàn sinh thái, gây ảnh hưởng đến vi sinh vật, tảo, cá và các loài thủy sinh khác. Những tác động ghi nhận gồm rối loạn hormone, thay đổi tập tính, giảm sinh trưởng, giảm sinh sản và phát sinh tình trạng kháng kháng sinh. Ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở Việt Nam, hiện sử dụng phổ biến kháng sinh, thuốc diệt ký sinh trùng và hóa chất phòng trị bệnh, góp phần đáng kể vào ô nhiễm môi trường nước bởi dư lượng dược phẩm. Do đó, cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng dược phẩm trong nuôi trồng thủy sản, nâng cao nhận thức cộng đồng và áp dụng biện pháp giám sát– kiểm soát là yêu cầu cấp bách nhằm bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Biến đổi, dược phẩm, hệ sinh thái thủy sinh ô nhiễm, nuôi trồng thủy sản</p> <p><strong><em>Abstract</em></strong></p> <p><em>The release of pharmaceuticals into the aquatic environment has been becoming a global problem due to their potential impacts on aquatic ecosystems. The main sources are domestic wastewater, hospitals, industries and agriculture including aquaculture activities. In the aquatic environment, pharmaceuticals can undergo transformation processes such as photolysis, hydrolysis, biodegradation or accumulation in sediments. Although concentrations are usually low (ng/L to µg/L), in many cases they exceed ecological safety thresholds, affecting microorganisms, algae, fish and other aquatic species. Recorded impacts include hormone disruption, behavioral changes, reduced growth, reduced reproduction and emergence of antibiotic resistance. The aquaculture industry, especially in Vietnam, currently widely uses antibiotics, antiparasitics and chemicals for disease prevention and treatment, contributing significantly to water pollution by pharmaceutical re</em><em>s</em><em>idues</em><em>. Therefore, strict management of the use of pharmaceuticals in aquaculture, raising public awareness and applying monitoring and control measures are urgent requirements to protect aquatic ecosystems</em><em>.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> Transformation, pharmaceuticals, aquatic ecosystems, pollution, aquaculture,</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/596 Đánh giá hiện trạng bảo quản sản phẩm thủy sản trên tàu nghề lưới chụp của tỉnh Lâm Đồng 2025-09-25T08:40:07+00:00 Vân Võ Thị Thanh thanhvan4786@gmail.com Phạm Văn Long thanhvan4786@gmail.com Trương Quốc Cường thanhvan4786@gmail.com Nguyễn Phan Phước Long thanhvan4786@gmail.com <p><em>Bài báo trình bày kết quả đánh giá hiện trạng bảo quản sản phẩm trên tàu nghề lưới chụp tại tỉnh Lâm Đồng bằng hai phương pháp phỏng vấn ngư dân (30 mẫu) và khảo sát trực tiếp trên tàu (30 mẫu) bằng phiếu thiết kế sẵn và phương pháp phân loại sản phẩm theo phương pháp của FAO (1995). Kết quả cho thấy chiều dài tàu trung bình là (21,2 ± 3,6) m, công suất trung bình của máy chính là (536,4 ± 213,8) CV. Vật liệu cách nhiệt chính của hầm bảo quản là xốp (77,8%) với thể tích trung bình (17,0 ± 7,8) m³ và sức chứa (5,8 ± 3,0) tấn/hầm; tất cả tàu có sử dụng khay nhựa và túi PE để chứa sản phẩm, một số kết hợp thùng nhựa hoặc khay thiếc. Có 100% tàu sử dụng phương pháp bằng đá xay, trong đó 55,6% có sử dụng cấp đông và 55,6% bảo quản lạnh. Tỷ lệ sản phẩm loại A dao động 10,0 </em><em>÷</em><em> 100,0%, trung bình (46,9 ± 23,0)%; giá trị loại B cao hơn loại C 1,8 lần, loại C cao hơn loại D 1,5 lần và loại D giảm giá trị so với loại A trung bình (34,5 ± 17,7)%.</em></p> <p><strong>Từ khóa</strong>: Bảo quản sản phẩm thủy sản, chất lượng sản phẩm, cấp đông, đá xay, hầm bảo quản, nghề lưới chụp</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>The article presents the results of an assessment of the status of product preservation on</em><em> the</em> <em>falling</em><em>-net boats in Lam Dong province</em><em> by two methods: interviewing fishermen (30 samples) and directly surveying on the boats (30 samples) by pre-designed questionnaires</em><em> and the FAO’s product classification method (1995).</em><em> The results showed that the average length of the boat was (21.2 ± 3.6) m, and the average capacity of the main engine was (536.4 ± 213.8) CV. The main insulation material of the storage hold was foam (77.8%), with an average volume of (17.0 ± 7.8) m³, and a capacity of (5.8 ± 3.0) tons/hold; all boats used plastic trays and PE bags to contain products, someones </em><em>you more</em><em>combined plastic barrels or tin trays. All vessels 100% employed the preservation method using crushed ice, among which 55.6% additionally applied freezing and </em><em>55,6% </em><em>cold storage.</em> <em>The proportion of type A products ranged from 10.0</em> <em>÷</em> <em>100.0%, with an average of (46.9 ± 23.0)%; the value of type B was 1.8 times higher than that of type C, type C was 1.5 times higher than that of type D, and type D had a lower value than that of type A on average (34.5 ± 17.7)%.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> crushed ice, storage hold, freezing, falling-net fishery, product quality, seafood preservation.</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/601 Ảnh hưởng của phương pháp dẫn truyền đến hiệu quả bảo hộ của vaccine Siseafood preservation ở cá chẽm <i>Lates calcarifer</i> (Bloch, 1790) 2025-09-23T07:34:06+00:00 Thuỳ Nguyễn nttthuy25@mae.gov.vn Nguyễn Thị Quế Chi nttthuy25@mae.gov.vn Lê Hồng Tuấn nttthuy25@mae.gov.vn Nguyễn Văn Hùng nttthuy25@mae.gov.vn Nguyễn Đức Toàn nttthuy25@mae.gov.vn <p><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của các phương pháp dẫn truyền vaccine bất hoạt Streptococcus iniae (SiV) đến khả năng đáp ứng miễn dịch và bảo hộ ở cá chẽm (Lates calcarifer). Thí nghiệm bao gồm ba nghiệm thức: Ngâm hai lần (NT1), ngâm kết hợp tiêm (NT2) và tiêm hai lần (NT3), với nhóm đối chứng được tiêm dung dịch PBS. Các thông số miễn dịch gồm hiệu giá kháng thể, hàm lượng kháng thể IgM đặc hiệu và hệ số bảo hộ (RPS) được đánh giá tại các mốc thời gian 30, 90 và 180 ngày sau miễn dịch lần hai. Kết quả cho thấy, hiệu giá và hàm lượng kháng thể, cũng như hệ số bảo hộ RPS đều giảm dần theo thời gian tuỳ thuộc phương pháp dẫn truyền vaccine. Trong đó, phương pháp tiêm hai lần (NT3) đạt hiệu quả cao nhất với hàm lượng kháng thể đạt OD₄₉₂ = 0,405, hiệu giá ngưng kết 1:147 và hiệu quả bảo hộ RPS đạt 94,4% tại 30 ngày sau gây miễn dịch và duy trì trên 80 % đến 180 ngày. Phương pháp ngâm tiêm kết hợp (NT2) cũng cho kết quả bảo hộ tương đối cao (70,8% -76,7%). Ngược lại, ngâm đơn thuần (NT1) chỉ tạo đáp ứng miễn dịch thấp và bảo hộ không bền vững. Những kết quả này khẳng định phương pháp tiêm lặp lại là tối ưu trong việc tạo đáp ứng miễn dịch mạnh, bền vững và thích hợp để áp dụng trong điều kiện nuôi thương phẩm cá chẽm quy mô lớn. Đồng thời, việc kết hợp các phương pháp dẫn truyền như ngâm – tiêm có thể là hướng đi khả thi để cân bằng giữa hiệu quả bảo hộ và tính thực tiễn trong sản xuất.</em></p> <p><strong>Từ khoá:</strong> <em>Lates calcarifer</em>, phương pháp dẫn truyền, <em>Streptococcus iniae</em>, vaccine bất hoạt.</p> <p><strong><em>Abstract</em></strong></p> <p><em>This study was conducted to evaluate the efficacy of different delivery methods of inactivated Streptococcus iniae vaccine (SiV) on the immune response and protective efficiency in Asian seabass (Lates calcarifer). The experiment consisted of three treatments: double immersion (NT1), immersion combined with injection (NT2), and double injection (NT3), and a control group injected with phosphate-buffered saline (PBS). Immunological parameters, including antibody titers, specific</em> <em>antibody</em><em> IgM </em><em>concentration, and Relative</em><em> Percentage Survival</em><em> (RPS), were assessed at 30, 90, and 180 days after the second immunization. The results showed that antibody titers, specific</em> <em>antibody concentration, and RPS decreased over time depending on the vaccine delivery method</em><em>s</em><em>. In particular, the double injection method (NT3) achieved the highest efficiency with antibody content reaching OD₄₉₂ = 0.405, agglutination titer of 1:147 and RPS protection efficiency reaching 94.4% at 30 days after immunization and maintained above 80% up to 180 days. The combined immersion injection method (NT2) also gave relatively high protection results (70.8% -76.7%). In contrast, immersion alone</em><em> (NT1)</em><em> only induced a low immune response and unsustainable protection.</em> <em>These findings confirm that intraperitoneal injection is the most effective strategy to induce strong and long-lasting immunity, making it suitable for large-scale commercial farming of L. calcarifer. Moreover, combined delivery methods as immersion followed by injection may offer a practical compromise between protective efficacy and operational feasibility in aquaculture.</em></p> <p><strong>Key word:</strong> <em>Lates calcarifer, </em>vaccine delivery methods,<em> Streptococcus iniae, </em>inactivated vaccine.</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/603 Nghiên cứu chế độ sấy tôm thẻ xẻ bụng bằng thiết bị sấy bức xạ hồng ngoại kết hợp năng lượng mặt trời 2025-11-03T02:34:10+00:00 Trần Thị Bảo Tiên chinhln@ntu.edu.vn Chính Lê Như chinhln@ntu.edu.vn Nguyễn Văn Duy chinhln@ntu.edu.vn <p><em>Nghiên cứu này nhằm xác định chế độ sấy tối ưu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm tôm thẻ chân trắng xẻ bụng sấy khô, sử dụng thiết bị sấy kết hợp giữa bức xạ hồng ngoại và năng lượng mặt trời gián tiếp (IR-SE). Quá trình thực nghiệm được thiết kế theo phương pháp Taguchi, với bốn thông số ảnh hưởng chính được khảo sát bao gồm: nhiệt độ buồng sấy (t), khoảng cách từ nguồn bức xạ đến sản phẩm sấy (H), vận tốc không khí sấy (V), và công suất đèn hồng ngoại (IP). Sau khi thu thập dữ liệu thực nghiệm, phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) được áp dụng để tối ưu hóa đồng thời các hàm mục tiêu, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm sấy, rút ngắn thời gian chế biến, giảm chi phí năng lượng và đảm bảo các đặc tính cảm quan mong muốn của tôm sấy xẻ bụng. Kết quả thu được chế độ sấy tối ưu: nhiệt độ sấy đạt 60°C, công suất đèn hồng ngoại là 1800 W, vận tốc gió là 1,88 m/s và khoảng cách từ nguồn bức xạ đến bề mặt sản phẩm là 34,15 cm. Trong suốt quá trình sấy, độ ẩm của không khí dao động từ 20% đến 25%. Mẫu tôm có độ ẩm ban đầu khoảng 70% và sau khi sấy đạt độ ẩm còn lại khoảng 20 ± 1%, với tổng thời gian sấy tương ứng là 4,03 giờ.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> tôm thẻ xẻ bụng sấy khô, sấy tôm thẻ xẻ bụng bằng bức xạ hồng ngoại kết hợp năng lượng mặt trời gián tiếp, phương pháp bề mặt đáp ứng.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study aimed to identify the optimal drying conditions for enhancing the quality and processing efficiency of belly-split whiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) using a hybrid drying system that integrates infrared radiation and indirect solar energy (IR-SE). The experimental design was based on the Taguchi method, investigating four key technological parameters: drying chamber temperature (T), distance from the infrared source to the product surface (H), drying air velocity (V), and infrared lamp power (IP). Following data collection, Response Surface Methodology (RSM) was employed to simultaneously optimize multiple performance objectives, including reducing drying time, minimizing energy consumption, and maintaining desirable sensory attributes of the final product. The optimal drying parameters were determined as follows: a drying temperature of 60 °C, infrared power of 1800 W, air velocity of 1.88 m/s, and a source-to-product distance of 34.15 cm. During the drying process, the relative humidity of the drying air ranged from 20% to 25%. The initial moisture content of the belly-split shrimp was approximately 70%, which was reduced to 20 ± 1% after drying, corresponding to a total drying duration of 4.03 hours.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> Belly-split shrimp; Infrared and solar drying; Hybrid drying system (IR-SE); Drying optimization; Response Surface Methodology (RSM); Energy-efficient drying</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/604 Nghiên cứu bể thử số thử kéo tàu cá FAO NO5A khi chạy trên nước tĩnh 2025-10-29T09:45:11+00:00 Tứ Trần Đình tutd@ntu.edu.vn Huỳnh Văn Vũ tutd@ntu.edu.vn <p><em>Nghiên cứu này trình bày kết quả ứng dụng phương pháp CFD để tạo bể thử số (numerical towing tank) thử kéo lực cản tàu FAO số hiệu 5a trên máy tính. Giải pháp số để giải hệ phương trình Reynolds-Averages Naviers-Stoke của dòng chảy nhớt có mặt thoáng chảy qua vỏ tàu là hai phần mềm CFD thương mại Simerics MP và OrCA3D Marine CFD. Có hai kết quả chính của nghiên cứu này. Kết quả thứ nhất về phương pháp sử dụng bể thử số bằng công cụ OrCA3D và Simerics giúp giảm thao tác trong việc chuẩn bị mô hình hình học, chia lưới so với các phần mềm CFD tổng quát khác như Star-CMM++, Ansys Fluent, hoặc Open FOAM vì lưới và miền tính toán được tạo tự động. Kết quả thứ hai về đặc điểm thủy động của dòng chảy, tại tốc độ khai thác tàu 9 knots của tàu FAO, lực cản tổng có độ sai số tương đối là 4.89% so với kết quả trong bể thử vật lý. Các biểu đồ phân bố áp suất, vận tốc của dòng chảy đều thu được dưới dạng biểu đồ màu rõ nét. Đặc biệt, biên dạng sóng trên vỏ tàu và phân bố chiều cao sóng trên mặt thoáng thu được từ bể thử tương đồng với hiện tượng sóng ngang và sóng dọc khi tàu di chuyển trong thực tế.</em></p> <p><strong>Từ khóa</strong>: Phân bố vận tốc, Phân bố áp suất, Computational Fluid Dynamcis, free surface flow</p> <p><strong><em>Abstract</em></strong></p> <p><em>This study presents the application of Computational Fluid Dynamics (CFD) methods to establish a numerical towing tank for the resistance test of the FAO No. 5a ship model. The numerical solution to solve the Reynolds-Averaged Navier–Stokes (RANS) equations governing viscous free-surface flow around the hull is comercial code, Simerics MP and OrCA3D Marine CFD.</em></p> <p><em>The study delivers two key outcomes. First, the proposed methodology for constructing a numerical towing tank using Orca3D and Simerics reduces the overall model preparation and setup time compared with general-purpose CFD solvers such as STAR-CCM++, ANSYS Fluent, or OpenFOAM. Second, in terms of hydrodynamic performance, the total resistance obtained at the ship’s service speed of 9 knots shows a relative deviation of only 4.89% compared with the experimental test data. In addition, high-resolution contour maps of pressure and velocity distributions were obtained, providing clear visualization of the flow field. Notably, the computed wave pattern along the hull and the free-surface elevation distribution exhibit strong agreement with the observed transverse and divergent wave systems generated by the ship in real operating conditions.</em></p> <p><strong>Keywords</strong>: Computational Fluid Dynamics (CFD); Numerical towing tank; Ship resistance; RANS equations; Free-surface flow; Hydrodynamic performance; Orca3D Marine CFD; Simerics-MP</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/608 Đánh giá hiệu quả hoạt động của nghề lưới vây khơi ở khu vực Đông Nam Bộ 2025-10-17T02:41:42+00:00 Nguyễn Phi Toàn ngphitoan@gmail.com Phạm Văn Tuấn ngphitoan@gmail.com Phạm Sỹ Tấn ngphitoan@gmail.com Bùi Như Chiến ngphitoan@gmail.com <p><em>Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên chủ tàu và thuyển trưởng của tàu lưới vây khai thác hải sản tại vùng biển khơi Đông Nam Bộ trong năm 2024 nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của đội tàu. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra đặc điểm tàu thuyền, trang thiết bị, ngư trường, đối tượng khai thác, năng suất và hiệu quả kinh tế của 90 tàu lưới vây tại tỉnh Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh và Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy đội tàu lưới vây khơi chủ yếu là tàu vỏ gỗ, với chiều dài trung bình từ 21,6÷25,8 m, công suất máy chính từ 447÷928 CV,</em><em> được trang bị khá đầy đủ các trang thiết bị phục vụ hàng hải và khai thác, cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong quá trình sản xuất</em><em>. Đội tàu hoạt động khai thác quanh năm với khoảng 250 ngày/năm, sản lượng trung bình đạt 219÷255 tấn/tàu/năm, lợi nhuận trung bình đạt từ 1,18÷1,20 tỷ đồng/tàu/năm. Đối tượng khai thác chính là cá nổi, trong đó cá nục chiếm tỷ lệ cao nhất. </em><em>Phân tích hồi quy đa biến đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận gồm: đầu tư thiết bị khai thác, kích thước ngư cụ, số lao động, đầu tư thiết bị hàng hải, công suất máy tàu và số ngày khai thác. Trong đó, các yếu tố chính cần đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động nghề gồm: đầu tư thiết bị khai thác, công suất máy tàu và tăng số ngày khai thác. Các yếu tố cần xem xét giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận cho đội tàu gồm: kích thước ngư cụ, số lao động và đầu tư thiết bị hàng hải.</em></p> <p><strong>Từ khóa</strong>: đội tàu lưới vây khơi, năng suất khai thác, hiệu quả kinh tế, ngư cụ, thiết bị khai thác.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>The study employed a randomized survey of vessel owners and captains operating purse seine fishing vessels in the offshore waters of the Southeastern region of Vietnam in 2024 to evaluate the operational performance of the fleet. Data were collected on vessel characteristics, onboard equipment, fishing grounds, target species, productivity, and economic efficiency from 90 purse seine vessels in Lam Dong, Ho Chi Minh City, and Dong Thap provinces. Results indicated that the offshore purse seine fleet primarily consisted of wooden-hulled vessels, with an average length ranging from 21.6 to 25.8 meters and main engine power between 447 and 928 HP. The vessels were generally well equipped with navigational and fishing devices, adequately meeting the requirements of offshore operations. The fleet operated year-round, averaging approximately 250 fishing days per year, with an annual catch of 219÷255 tons per vessel and an average profit of 1.18÷1.20 billion VND per vessel per year. The main target species were pelagic fish, with mackerel accounting for the largest proportion. A multiple regression analysis identified several factors significantly influencing profitability, including investment in fishing equipment, gear size, crew size, investment in navigational devices, engine power, and the number of fishing days. Among these, key factors requiring enhanced investment to improve operational efficiency included fishing equipment, engine power, and fishing effort (number of fishing days). Conversely, factors such as gear size, crew size, and investment in navigational devices should be reconsidered to optimize costs and increase profitability.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> offshore purse seine fleet, fishing productivity, economic performance, fishing gear, fishing equipment.</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/612 Vi nhựa và siêu vi nhựa trong hoạt động nuôi biển – tình hình ở Việt Nam 2025-11-11T01:02:48+00:00 Bôi Nguyễn Văn Quỳnh boinvq@ntu.edu.vn <p> <em>Vi nhựa nói chung (≤ 1.000 μm) đưa vào môi trường biển và ven bờ từ các nguồn bên ngoài (sông, đất liền, lắng đọng từ khí quyển…) và/hoặc các hoạt động trên biển (du lịch, vận tải, khai thác và nuôi trồng thủy sản) ngày càng trở nên nghiêm trọng và được quan tâm nhiều do ảnh hưởng nguy hại của chúng đến sinh vật, môi trường và toàn bộ hệ sinh thái bao gồm cả các bộ phận cấu thành trong nuôi biển. Nhiều nghiên cứu cho thấy vi nhựa tích lũy và tác động đến các quá trình sinh lý, hóa sinh, di truyền gây ảnh hưởng đến tập tính và sinh trưởng – phát triển của sinh vật, qua đó làm giảm hiệu quả kinh tế và tiềm ẩn rủi ro đối với người sử dụng, đáng lưu ý đối với các loài giáp xác, thân mềm và cá biển là những đối tượng chủ lực của nuôi biển Việt Nam. Vấn đề tương tự cũng xảy ra ở Việt Nam với các nguồn dữ liệu cho thấy vùng biển ven bờ có khả năng bị ảnh hưởng bởi rác thải nhựa nói chung, vi nhựa nói riêng. Do vậy, theo nguyên tắc “tiếp cận phòng ngừa”, cần tìm hiểu vấn đề và định hướng các giải pháp đối với ô nhiễm vi nhựa trong hoạt động nuôi biển.</em></p> <p><strong>Từ khóa</strong>: Nuôi biển, vi nhựa, Việt Nam</p> <p><strong><em>Abstract</em></strong></p> <p><strong> </strong><em>Microplastics in general (≤ 1,000 μm) are increasingly released into marine and coastal environments from external sources (rivers, land, atmospheric deposition, etc.) and/or from marine activities (tourism, transportation, fishing, and aquaculture). This issue has become more serious and has attracted growing concern due to their harmful impacts on organisms, environment, and entire ecosystem — including components involved in mariculture. Numerous studies have shown that microplastics can accumulate in organisms and affect physiological, biochemical, and genetic processes, thereby influencing behavior, growth, and development. These effects ultimately reduce economic efficiency and pose potential risks to consumers, particularly for crustaceans, mollusks, and marine fish — the main species of Vietnam’s mariculture sector. Similar concerns exist in Vietnam, where data indicate that coastal areas are likely affected by plastic waste in general and microplastics in particular. Therefore, following the “precautionary approach,” it is necessary to investigate the problem and develop appropriate solutions to microplastic pollution in mariculture activity.</em></p> <p><strong>Từ khóa</strong>: Mariculture, microplatics, Viet Nam</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/618 Nghiên cứu thành phần lý-hóa hải sâm cát (<i>Holothuria Scabra</i>) nguyên liệu nuôi tại vùng biển Ninh Hòa, Khánh Hòa 2025-11-28T09:03:56+00:00 Vương Trần Văn vuongtv@ntu.edu.vn Đạt Phạm Văn datpv@ntu.edu.vn <p>Nghiên cứu đã đánh giá được một số thành phần lý-hóa <strong>trên ba nhóm hải sâm cát </strong><em>(</em><a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Holothuria_scabra"><em>Holothuria Scabra</em></a><strong>), nhóm </strong>5-6 con/kg (nhóm nhỏ), 3-4 con/kg (nhóm trung) và 1-2 con/kg (nhóm lớn) được thu mua tại đìa nuôi ở vùng biển Ninh Hòa, Khánh Hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy <strong>có sự thay đổi rõ rệt trên từng nhóm,</strong> cụ thể: <strong>Về tỷ lệ phần ăn được (thịt), nhóm nhỏ</strong> và <strong>nhóm trung </strong>có <strong>tỷ lệ thấp hơn nhóm lớn từ </strong>8-10%; Về <strong>hàm lượng nước</strong>, nhóm lớn có hàm lượng nước thấp nhất (77,01%), thấp hơn nhóm nhỏ gần 6,5% và nhóm trung gần 1,0%. Còn ở nhóm trung, hàm lượng nước (78,91%) thấp hơn nhóm nhỏ gần 5,0%; Về chỉ tiêu protein, lipid, carbohydrate, canxi, photpho và tro tổng trên các nhóm hải sâm cát khác nhau đều có sự tăng, giảm khác nhau. Trong đó, hàm lượng protein tăng từ 61,60% đến 74,34%, lipid 3,16% đến 5,89%, carbohydrate 7,29% đến 8,20%, canxi 0,74% đến 1,07%, photpho 0,18% đến 0,49% trong khi hàm lượng tro tổng lại giảm từ 27,64% đến 10,00%. Do đó nên thu hoạch, chế biến và sử dụng hải sâm cát nguyên liệu ở <strong>nhóm có trọng lượng lớn sẽ </strong>giúp tăng hiệu quả thu hồi phần thịt, tăng giá trị dinh dưỡng, khoáng chất khi sử dụng cùng lượng nguyên liệu.</p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Hải sâm, hải sâm cát, thành phần lý-hóa hải sâm cát.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>The study evaluated several physicochemical composition on three size groups of sandfish (Holothuria scabra) 5-6 individuals/kg (small group), 3-4 individuals/kg (medium group) and 1-2 individuals/kg (large group), purchased from farming ponds in the Ninh Hoa sea area, Khanh Hoa. Results showed clear differences among the groups, specifically: Regarding the proportion of edible (meat), the small and medium groups had a lower than the large group by 8-10%; Regarding water content, the large group had the lowest water content (77.01%), nearly 6.5% lower than the small group and nearly 1.0% lower than the medium group. The medium group’s water content (78.91%) was almost 5.0% lower than the small group; For the indicators protein, lipid, carbohydrate, calcium, phosphorus, and total ash across the different sandfish groups, there were varying increases and decreases. Protein ranged from 61.60% to 74.34%, lipids from 3.16% to 5.89%, carbohydrates from 7.29% to 8.20%, calcium from 0.74% to 1.07%, phosphorus from 0.18% to 0.49%, while total ash decreased from 27.64% to 10.00%. Therefore, harvesting, processing, and using sandfish raw material from the larger-weight group will help improve meat recovery efficiency and increase the nutritional, mineral when using the same amount of raw material.</em></p> <p><strong> Keywords:</strong> Sea cucumber, sandfish, physicochemical composition of farmed sandfish.</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/622 Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết tỏi tươi đối với vi khuẩn Vibrio spp. Gây bệnh xuất huyết ở cá bớp nuôi tại Khánh Hòa 2025-12-02T05:10:55+00:00 Trần Vĩ Hích hichtv@ntu.edu.vn Hứa Thị Ngọc Dung hichtv@ntu.edu.vn <p><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của dịch ép tỏi tươi từ ba loại tỏi (tỏi cô đơn, tỏi tép nhỏ và tỏi Trung Quốc) đối với hai loài vi khuẩn Vibrio harveyi và Vibrio alginolyticus. Kết quả đánh giá hoạt tính kháng khuẩn bằng khuếch tán trên đĩa thạch cho thấy dịch ép tỏi có khả năng ức chế sự phát triển của cả hai loài Vibrio, với đường kính vòng vô khuẩn tăng theo nồng độ. Tỏi cô đơn và tỏi tép nhỏ tạo vòng vô khuẩn lớn hơn có ý nghĩa so với tỏi tép lớn (P &lt; 0,05). V. harveyi nhạy cảm hơn so với V. alginolyticus ở tất cả các nồng độ khảo sát.</em></p> <p><em>Kết quả xác định MIC và MBC của dịch ép tỏi đối với 2 loài vi khuẩn cho thấy giá trị MIC với V harveyi dao động 3,125–6,25% và MBC 6,25–12,50%; trong khi đối với V. alginolyticus, MIC và MBC cao hơn, lần lượt 6,25–12,50% và 12,50–25%. Tỷ lệ MBC/MIC ≤ 4 cho thấy dịch ép tỏi tươi mang tính diệt khuẩn theo tiêu chuẩn của Canillac và Mourey (2001).</em></p> <p><em>Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng dịch ép tỏi tươi như một tác nhân kháng khuẩn tự nhiên trong phòng ngừa và kiểm soát bệnh do Vibrio trên cá biển, góp phần hướng tới giải pháp thay thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Tỏi, <em>V. harveyi, V. alginolyticus</em>, MIC, MBC</p> <p><strong><em>ABSTRACT</em></strong></p> <p><em>The study was conducted to evaluate the antibacterial activity of fresh garlic extract from three garlic varieties (solo garlic, small clove garlic, and Chinese garlic) against two bacterial species, Vibrio harveyi and Vibrio alginolyticus. The agar diffusion assay showed that the garlic extract inhibited the growth of both Vibrio species, with inhibition zone diameters increasing proportionally with extract concentration. Solo garlic and small clove garlic produced significantly larger inhibition zones compared to Chinese garlic (P &lt; 0.05). V. harveyi was more sensitive than V. alginolyticus at all tested concentrations.</em></p> <p><em>The MIC and MBC assays revealed that the MIC values for V. harveyi ranged from 3.125–6.25%, with corresponding MBC values of 6.25–12.50%. For V. alginolyticus, both MIC and MBC values were higher, ranging from 6.25–12.50% and 12.50–25%, respectively. The MBC/MIC ratio ≤ 4 indicated that the fresh garlic extract exhibited bactericidal properties according to the criteria of Canillac and Mourey (2001).</em></p> <p><em>These findings demonstrate the potential of fresh garlic extract as a natural antibacterial agent for the prevention and control of Vibrio infections in marine fish, contributing to the development of antibiotic alternatives in aquaculture.</em></p> <p><strong>Keyswords:</strong> garlic,<em> V. harveyi, V. alginolyticus, </em>MIC, MBC</p> 2025-12-29T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang