Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
https://jfst.vn/index.php/ntu
<p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Tạp chí Khoa học - Công nghệ thủy sản ISSN: 1859 - 2252 <span style="font-size: 11.0pt; color: black;">(Giấy phép Hoạt động số 292/GP-BTTTT ngày 03/6/2016)</span> là cơ quan ngôn luận về khoa học của Trường Đại học Nha Trang, xuất bản 4 số/năm với ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng Việt và tiếng Anh, được phát hành rộng rãi và miễn phí. Tạp chí được phát hành trên toàn quốc: doanh nghiệp trong ngành thủy sản, kinh tế biển, các sở khoa học - công nghệ trên toàn quốc, các trường đại học, viện nghiên cứu trong khối nông - lâm - ngư…và một số Trường Đại học, Viện nghiên cứu nước ngoài.</span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Tôn chỉ, mục đích của Tạp chí:</span></span></p> <p style="text-indent: 1.0cm; text-align: start; box-sizing: border-box; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; orphans: 2; widows: 2; -webkit-text-stroke-width: 0px; text-decoration-thickness: initial; text-decoration-style: initial; text-decoration-color: initial; word-spacing: 0px; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span style="box-sizing: border-box;"><span class="noidung"><span style="color: black;">- Thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển thủy sản.</span></span></span></p> <p style="text-indent: 1.0cm; text-align: start; box-sizing: border-box; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; orphans: 2; widows: 2; -webkit-text-stroke-width: 0px; text-decoration-thickness: initial; text-decoration-style: initial; text-decoration-color: initial; word-spacing: 0px; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span style="box-sizing: border-box;"><span class="noidung"><span style="color: black;">- Công bố, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực thủy sản nhằm phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu, giảng dạy của nhà Trường;</span></span></span></p> <p style="text-indent: 1.0cm; text-align: start; box-sizing: border-box; font-variant-ligatures: normal; font-variant-caps: normal; orphans: 2; widows: 2; -webkit-text-stroke-width: 0px; text-decoration-thickness: initial; text-decoration-style: initial; text-decoration-color: initial; word-spacing: 0px; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span style="box-sizing: border-box;"><span class="noidung"><span style="color: black;">- Thông tin các kết quả nghiên cứu khoa học về thủy sản ở trong và ngoài nước;</span></span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Với mong muốn thực sự trở thành diễn đàn của những người hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực thuỷ sản, Ban biên tập Tạp chí rất mong muốn nhận được sự cộng tác, trao đổi học thuật của các tổ chức, cá nhân trên các lĩnh vực nghiên cứu về khoa học công nghệ thủy sản.</span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><span class="noidung"><span style="color: black;">Các bài báo đăng trên Tạp chí đã được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước công nhận và tính điểm công trình khi xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư hàng năm.</span></span></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">Năm 2025, Tạp chí đã được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước công nhận và tính điểm công trình (theo Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN ngày 11/7/2025) ở các chuyên ngành:</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">1. HĐGS ngành, liên ngành Chăn nuôi – Thú y – Thủy sản: 1,0 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">2. HĐGS ngành Cơ khí – Động lực: 0,5 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">3. HĐGS ngành Sinh học: 0,5 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">4. HĐGS ngành, liên ngành Hóa học – Công nghệ thực phẩm: 0,5 điểm</span></span></strong></p> <p style="text-align: justify; text-indent: 1.0cm; margin: 0cm 0cm 6.0pt 0cm;"><strong><span class="noidung"><span style="color: black;">5. HĐGS ngành Giao thông vận tải: 0,25 điểm</span></span></strong></p>Nha Trang Universityvi-VNTạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang1859-2252Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình sấy bơm nhiệt đến chất lượng cảm quan sản phẩm cá bè vẫu cắt lát (<i>Caranx ignobilis</i>) một nắng
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/630
<p><em>Cá bè vẫu một nắng là một trong các sản phẩm mới từ cá bè vẫu, sản phẩm có giá trị cảm quan, dinh dưỡng cao, được thị trường ưu chuộng. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của công đoạn sấy đến chất lượng cảm quan sản phẩm cá bè vẫu một nắng. Kết quả nghiên cứu cho thấy với chế độ sấy phù hợp: nhiệt độ sấy 45 </em>℃<em>, thời gian sấy 100 phút, tốc độ gió 2,5 m/s cho chất lượng cảm quan sản phẩm tốt nhất, đạt 18,49 điểm theo TCVN 3215-79. </em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> cá bè vẫu, một nắng, sấy bơm nhiệt.</p> <p><em> </em><strong>Abstract</strong></p> <p><em>S</em><em>emi-dried</em> s<em>liced giant</em><em> kingfish product</em><em> is a novel product derived from g</em><em>i</em><em>ant</em><em> kingfish</em><em>, characterized by high sensory and nutritional value and strong market acceptance. This study aimed to evaluate the effects of drying conditions on the sensory quality of S</em><em>emi-dried</em> s<em>liced</em> <em>g</em><em>i</em><em>ant</em><em> kingfish</em><em>. The results indicated that optimal drying conditions namely a drying temperature of 45 ℃, a drying duration of 100 minutes, and an air velocity of 2.5 m/s produced the highest sensory quality.</em></p> <p><strong>Keywords: </strong>sliced giant kingfish, semi-dried, heat pump drying</p>Văn Đức Thái
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300200301210.53818/jfst.02.2026.630Đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất, chế biến nước mắm truyền thống của các doanh nghiệp tại tỉnh Lâm Đồng
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/638
<p><em>Nghiên cứu đánh giá hiện trạng trình độ và năng lực công nghệ sản xuất, chế biến nước mắm truyền thống của các doanh nghiệp tại tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Bình Thuận). Khảo sát được thực hiện đối với 82 doanh nghiệp, thu thập dữ liệu theo năm nhóm tiêu chí: hiện trạng công nghệ và thiết bị (T), hiệu quả khai thác công nghệ (E), năng lực tổ chức và quản lý (O), nghiên cứu và phát triển (R) và đổi mới sáng tạo (I).Việc đánh giá được thực hiện theo Hướng dẫn của Thông tư số 17/2019/TT-BKHCN</em> <em>ngày 10/12/2019 của Bộ Khoa học và Công nghệ. </em></p> <p><em>Kết quả cho thấy tổng điểm trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp đạt 30,8 điểm, với hệ số mức độ đồng bộ T<sub>ĐB</sub> = 0,20, xếp loại lạc hậu. Có tới 82,9% doanh nghiệp ở mức lạc hậu và 17,1% đạt trung bình. Cấu trúc năng lực công nghệ mất cân đối: nhóm thiết bị (T) ở mức tiệm cận trung bình, trong khi các nhóm E, O, R và I đều thấp, phản ánh hạn chế trong khai thác công nghệ, quản trị, nghiên cứu và đổi mới. Hạn chế cốt lõi không nằm ở thiếu thiết bị mà ở sự thiếu đồng bộ giữa các nhóm năng lực, làm giảm hiệu quả sản xuất và giá trị gia tăng. </em></p> <p><strong>Từ khóa: </strong>Tỉnh Lâm Đồng, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ, nước mắm truyền thống</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study evaluates the current technological level and capability in the production and processing of traditional fish sauce among enterprises in Lam Dong Province (formerly Binh Thuan Province), Vietnam. A survey was conducted with 82 enterprises to collect data based on five groups of criteria: technological and equipment status (T), efficiency of technology utilization (E), organizational and managerial capability (O), research and development capability (R), and innovation capability (I). The assessment was carried out in accordance with the guidelines for evaluating technological capability issued by the Ministry of Science and Technology under Circular No. 17/2019/TT-BKHCN.</em></p> <p><em>The results show that the overall technological capability score of the surveyed enterprises reached 30.8 points, with a technological synchronization coefficient of TĐB = 0.20</em> <em>classified as backward. Of the surveyed enterprises, 82.9% fall into the backward category, while only 17.1% achieve a medium level. The technological capacity structure is notably imbalanced: the technology and equipment group (T) remains at a moderate level, whereas the groups E, O, R, and I are consistently low, reflecting limitations in technology utilization, management practices, research, and innovation. The findings suggest that the core constraint does not lie in the lack of equipment, but in the lack of synchronization among capacity components, which reduces production efficiency and value-added generation. </em></p> <p><strong>Keywords:</strong> Lam Dong Province, technological level, technological capability, traditional fish sauce</p>Long NguyễnHùng Đinh XuânLương Nguyễn TrọngTrà Trịnh Thị
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300201302310.53818/jfst.02.2026.638Đánh giá khả năng loại bỏ các dạng nitơ và photpho trong môi trường nước của hàu Thái Bình Dương (<i>Crassostrea gigas</i>) ở điều kiện thí nghiệm
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/641
<p><em>Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng cải thiện chất lượng nước của hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas) thông qua biến động các chất dinh dưỡng trong điều kiện thí nghiệm có kiểm soát. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với hai nhóm kích thước hàu (3–5 cm và 6–8 cm), gồm 4 nghiệm thức (2 nghiệm thức có hàu và 2 nghiệm thức đối chứng) trong thời gian 24 giờ. Các thông số chất lượng nước thuộc nhóm chất dinh dưỡng gồm P-PO₄³⁻, N-NH₄⁺, N-NO₂⁻, N-NO₃⁻, tổng nitơ (TN) và tổng photpho (TP) được xác định tại thời điểm trước và sau thí nghiệm. </em><em>Kết quả cho thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng có xu hướng giảm ở tất cả các nghiệm thức sau 24 giờ, trong đó mức giảm ở các nghiệm thức có hàu cao hơn so với nghiệm thức đối chứng. Sự suy giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) được ghi nhận rõ đối với các dạng dinh dưỡng vô cơ hòa tan, đặc biệt là N-NH₄⁺ và P-PO₄³⁻. Đối với nhóm hàu kích thước lớn (6–8 cm), xu hướng giảm còn được ghi nhận đối với N-NO₃⁻, tổng nitơ (TN) và tổng photpho (TP), cho thấy khả năng biến đổi và loại bỏ dinh dưỡng cao hơn so với nhóm kích thước nhỏ (3–5 cm). Kết quả nghiên cứu cho thấy hàu Thái Bình Dương có tiềm năng hỗ trợ cải thiện chất lượng nước và có thể được xem xét như một đối tượng chức năng trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản bền vững.</em></p> <p><strong>Từ khóa: </strong>chất dinh dưỡng, chất lượng nước, hàu Thái Bình Dương, nitơ, photpho.</p> <p><strong><em>Abstract</em></strong></p> <p><em>This study aimed to assess the capacity of Pacific oyster (Crassostrea gigas) to improve water quality through changes in nutrient concentrations under controlled experimental conditions. The experiment was conducted using a completely randomized design with two oyster size groups (3–5 cm and 6–8 cm), including four treatments (two oyster treatments and two controls) over a 24-hour period. Water quality parameters, including nutrient indicators such as P-PO₄³⁻, N-NH₄⁺, N-NO₂⁻, N-NO₃⁻, total nitrogen (TN), and total phosphorus (TP), were measured at the beginning and end of the experiment. The results showed that nutrient concentrations tended to decrease in all treatments after 24 hours, with greater reductions observed in the oyster treatments compared to the controls. Statistically significant decreases (p < 0.05) were recorded for dissolved inorganic nutrients, particularly ammonium (N-NH₄⁺) and phosphate (P-PO₄³⁻).</em> <em>In the larger oyster size group (6–8 cm), decreasing trends were also observed for N-NO₃⁻, total nitrogen (TN), and total phosphorus (TP), indicating a greater capacity for nutrient transformation and removal compared to the smaller oyster group (3–5 cm). The findings suggest that the Pacific oyster has the potential to contribute to water quality improvement and may be considered a functional species for sustainable aquaculture systems.</em></p> <p><strong>Keywords: </strong>Nitrogen, nutrient dynamics, pacific oyster (Crassostrea gigas), phosphorus, water quality.</p>Trâm VõTô Đông TịnhHà Thị Thanh HuyềnTrần Thị Minh HảiVõ Văn Nha
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300202403310.53818/jfst.02.2026.641Ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần sản phẩm và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà ở vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/642
<p><em>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần loài, tần suất xuất hiện và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2024 tại vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 02 chuyến biển và được phân tích theo 3 pha mặt trăng gồm t</em><em>răng cuối tháng, trăng non và trăng đầu tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 07 loài cá nổi chính được khai thác, trong đó </em><em>cá nục thuôn và cá ngừ chấm chiếm ưu thế về sản lượng. Tổng sản lượng khai thác thu được là 70.700 kg</em><em>, </em><em>năng suất khai thác trung bình cá nục thuôn cao nhất đạt 494,1 kg/mẻ, </em><em>phần lớn chiều dài các loài cá (FL) khai thác được nằm trong khoảng thương phẩm dao động từ 20 </em><em>÷ 41 cm</em><em>. Thành phần loài chiếm tỷ lệ cao nhất trong mỗi pha mặt trăng là: </em><em>cá ngừ chấm (</em><em>36% ở </em><em>pha trăng cuối tháng và </em><em>30% ở </em><em>pha trăng non) và c</em><em>á nục thuôn (35% ở </em><em>pha trăng đầu tháng). </em><em>Cá ngừ chấm chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) </em><em>trong pha trăng cuối tháng và pha trăng non; c</em><em>á nục thuôn chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) </em><em>trong pha trăng đầu tháng. Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis cho thấy các pha mặt trăng không có ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng khai thác bằng lưới vây.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Pha mặt trăng, lưới vây, Đông Nam Bộ.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study was conducted to assess the influence of lunar phases on species composition, occurrence frequency, and catch yields of purse seine fisheries using FAD. The study was conducted from September to November 2024 in the Southeastern region of Vietnam. Data were collected from two fishing trips and analyzed according to three lunar phases: the third quarter, the new moon, and the first quarter. The research results show that 7 main pelagic fish species were exploited, with slender scad and little tuna dominating in terms of catch volume. The total catch was 70700 kg, with the highest average catch yield for slender scad being 494.1 kg per batch. The majority of the fish caught were within the marketable length range of 20 ÷ 41 cm. The most abundant species composition in each lunar phase was: little tuna (36% in the third quarter and 30% in the new moon) and slender scad (35% in the first quarter). Little tuna had the highest incidence (100%) in the third quarter and the new moon phases; Slender scad had the highest incidence (100%) in the first quarter phase. The Kruskal-Wallis test results show that lunar phases do not significantly affect the yield of purse seine.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> Moon phase, purse seine, Southeast region.</p>Tan PhamNguyễn Phi ToànVũ Kế Nghiệp
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300203404410.53818/jfst.02.2026.642So sánh khoảng cách giới trong khai thác thủy sản giữa các khu vực ven biển tỉnh Khánh Hòa: Hồ sơ hoạt động và tiếp cận – kiểm soát nguồn lực
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/648
<p><em>Nghiên cứu phân tích sự khác biệt theo giới về hồ sơ hoạt động, quyền tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, cũng như các yếu tố ảnh hưởng trong chuỗi khai thác thủy sản tại tỉnh Khánh Hòa. Dữ liệu được thu thập qua khảo sát cắt ngang 293 lao động (145 nữ, 148 nam) tham gia trực tiếp và gián tiếp tại ba cụm ven biển: Nha Trang, Cam Ranh và Vạn Ninh – Ninh Hòa trong giai đoạn 2024–2025. Khung phân tích Harvard được sử dụng để xác định phân công lao động theo giới, lượng hóa khoảng cách giới (GAP) và so sánh giữa các khu vực. Kết quả cho thấy nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối trong các hoạt động khai thác trực tiếp trên biển, đặc biệt là đánh bắt thủy sản (GAP từ 67,33 đến 81,25 điểm %). Ngược lại, phụ nữ tham gia nổi bật hơn ở các khâu sau khai thác (sửa chữa ngư lưới cụ, chế biến, phân loại, bảo quản và buôn bán). Trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, nam giới có lợi thế rõ rệt đối với đất đai, nhà cửa và ngư trường, trong khi phụ nữ nắm vai trò chính trong các quyết định tài chính thường nhật của hộ gia đình. Các rào cản chính đối với phụ nữ bao gồm gánh nặng công việc gia đình, chuẩn mực văn hóa - truyền thống và hạn chế sở hữu tài sản. Nghiên cứu nhấn mạnh sự khác biệt đáng kể giữa ba khu vực, cho thấy nhu cầu thiết kế các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới phải phù hợp với đặc thù sinh kế và cấu trúc nghề cá của từng cụm địa bàn.</em></p> <p><strong>Từ khóa: </strong>Giới, Khoảng cách giới, Khai thác thủy sản</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study examines gender differences in activity profiles, access to and control over resources, and influencing factors in the capture fisheries </em><em>supply </em><em>chain in Khanh Hoa Province, Vietnam. Data were collected through a cross-sectional survey of 293 workers (145 women and 148 men) directly or indirectly involved in fisheries activities across three coastal clusters—Nha Trang, Cam Ranh, and Van Ninh–Ninh Hoa—during 2024–2025. The Harvard Analytical Framework was applied to identify gender-based labor division, quantify gender gaps (GAP), and compare patterns across locations. Results reveal that men overwhelmingly dominate direct offshore fishing activities, particularly harvesting, with gender gaps ranging from 67.33 to 81.25 percentage points. In contrast, women are more actively involved in post-harvest stages, including net repair, processing, sorting, preservation, and fish trading. Regarding resource access and control, men hold stronger positions over key productive assets such as land, housing, and fishing grounds, while women play a more prominent role in daily household financial decisions. Major constraints for women include heavy domestic responsibilities, socio-cultural norms, and limited asset ownership.The study highlights significant variations across the three areas, underscoring the need for location-specific gender-responsive interventions tailored to local livelihood patterns and fishery structures.</em></p> <p><strong>Key words: </strong>Gender, Gender gap, Capture fisheries</p>Anh Phạm Khánh Thụy
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300204506110.53818/jfst.02.2026.648Tối ưu hóa tần suất cho ăn nhằm cải thiện sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và độ đồng đều của cá hồng mỹ (<i>Sciaenops ocellatus</i>) giai đoạn giống
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/669
<p><em>Tần suất cho ăn là một trong những yếu tố kỹ thuật quan trọng quyết định hiệu quả ương nuôi cá biển, song thông tin về cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống ở Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tần suất cho ăn phù hợp cho cá hồng Mỹ giai đoạn giống. Cá giống (kích cỡ ban đầu 3,91 ± 0,13 cm và 0,76 ± 0,09 g) được bố trí ngẫu nhiên theo năm nghiệm thức tương ứng với các tần suất cho ăn 2, 3, 4, 5 và 6 lần/ngày, mỗi nghiệm thức lặp lại ba lần, và được nuôi trong thời gian 42 ngày. Kết quả cho thấy tần suất cho ăn ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến sinh trưởng, độ đồng đều đàn cá và hệ số chuyển hóa thức ăn (P < 0,05), nhưng không tác động đến tỷ lệ sống, tỷ lệ dị hình và hệ số điều kiện (P > 0,05). Sinh trưởng và độ đồng đều tăng dần khi nâng tần suất từ 2 lên 5 lần/ngày, sau đó suy giảm ở mức 6 lần/ngày. Phân tích hồi quy bậc hai xác định tần suất tối ưu cho sinh trưởng đạt khoảng 5,2 lần/ngày, trong khi hệ số chuyển hóa thức ăn tối ưu ở mức thấp hơn (khoảng 4,4 lần/ngày). Cân bằng giữa sinh trưởng, độ đồng đều và hiệu quả sử dụng thức ăn, nghiên cứu khuyến nghị áp dụng tần suất cho ăn 4–5 lần/ngày cho cá hồng Mỹ giai đoạn giống nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật và kinh tế trong sản xuất giống.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> <em>Độ đồng đều, hiệu quả sử dụng thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn, ương nuôi cá biển, sản xuất giống.</em></p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>Feeding frequency is an important husbandry factor governing the rearing efficiency of marine fish; however, information on juvenile red drum (Sciaenops ocellatus) in Vietnam remains scarce. This study was conducted to determine the appropriate feeding frequency for juvenile red drum. Juveniles (initial size of 3.91 ± 0.13 cm and 0.76 ± 0.09 g) were randomly allocated to five treatments corresponding to feeding frequencies of 2, 3, 4, 5 and 6 times per day, each with three replicates, and reared for 42 days. The results showed that feeding frequency significantly affected growth performance, size uniformity and feed conversion ratio (P < 0.05), but did not significantly affect survival, deformity rate and condition factor (P > 0.05). Growth and uniformity increased progressively as feeding frequency rose from 2 to 5 times per day and then declined at 6 times per day. Second-order polynomial regression identified an optimal feeding frequency of approximately 5.2 times per day for growth. In contrast, the optimal feed conversion ratio occurred at a lower level (approximately 4.4 times per day). Balancing growth, uniformity and feed utilization, this study recommends a feeding frequency of 4–5 times per day for juvenile red drum to enhance technical and economic efficiency in seed production.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> <em>Size uniformity, feed utilization, feed conversion ratio, marine fish rearing, seed production.</em></p>Đại Trần QuangPhú Phan TrọngNam Đoàn XuânKiên Nguyễn ĐắcThành Đặng TrungDũng Trần Văn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300206207410.53818/jfst.02.2026.669Đánh giá thực trạng tuân thủ quy định bảo vệ nguồn lợi thủy sản của đội tàu xa bờ: Trường hợp nghề lưới chụp của tỉnh Nghệ An
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/670
<p><em>Nghiên cứu đã tiến hành điều tra trực tiếp 166 thuyền trưởng, chủ tàu cá về việc nắm bắt và tuân thủ các quy định liên quan đến bảo vệ nguồn lợi thủy sản và khảo sát kích thước mắt lưới của 60 ngư cụ nghề lưới chụp hoạt động ở vùng khơi thuộc vịnh Bắc Bộ. Công tác điều tra và khảo sát được thực hiện từ </em><em>tháng 11/2025 đến tháng 4/2026 khi tàu cập tại 03 cảng cá của tỉnh Nghệ An. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết chủ tàu và thuyền trưởng nắm bắt và tuân thủ tốt các quy định. Trong đó, 100% tàu cá trang bị và </em><em>vận hành thiết bị giám sát hành trình tàu cá; 93,4% tàu cá chấp hành tốt quy định </em><em>về vùng khai thác thủy sản; 98,2% tàu cá không vi phạm quy định về khu vực cấm khai thác có thời hạn và 100% tàu cá không vi phạm quy định về khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản. </em><em>Bên cạnh đó, có 63,3% chủ tàu và thuyền trưởng sử dụng kích thước mắt lưới tại đụt lưới nhỏ hơn quy định khai thác thủy sản ở vùng khơi.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Nguồn lợi thủy sản, kích thước mắt lưới, nghề lưới chụp, hệ thống giám sát hành trình tàu cá, tỉnh Nghệ An.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study conducted face-to-face interviews with 166 skippers and owners regarding their awareness of and compliance with regulations related to the protection of aquatic resources. Additionally, the mesh sizes of 60 fishing gears operating in offshore waters of the Gulf of Tonkin were surveyed. The investigation and survey were carried out from November 2025 to April 2026 when the vessels docked at three fishing ports in Nghe An province. The results indicated that most vessel owners and skippers had a good grasp of and strictly complied with the regulations. Specifically, 100% of the fishing vessels were equipped with and operated vessel monitoring systems (VMS); 93.4% of the vessels complied well with regulations on fishing zones; 98.2% did not violate regulations regarding temporarily closed fishing areas; and 100% of the vessels did not violate regulations on aquatic resource protection areas. However, </em><em>63.3</em><em>% of the vessel owners and skippers had not yet properly implemented the regulations concerning the minimum allowable mesh size for offshore fishing operations.</em></p> <p><strong>Keywords:</strong> fishery resources, mesh sizes, stick-held falling net fisheries, vessel monitoring system, Nghe An province</p>Lương Nguyễn TrọngTô Văn PhươngNguyễn Phan Phước Long
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300207508810.53818/jfst.02.2026.670Phân tích tuổi thọ dây giềng phao và dây giềng chì lưới kéo đôi tầng đáy tại phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/639
<p><em>Nghiên cứu này nhằm phân tích và ước tính tuổi thọ trung bình của giềng phao và giềng chì trong nghề lưới kéo đôi tầng đáy tại phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phỏng vấn hồi cố 17 cặp tàu lưới kéo đôi tầng đáy về tình hình sử dụng ngư cụ trong giai đoạn 2024–2025. Các phương pháp phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm R, bao gồm kiểm định phân phối chuẩn Shapiro–Wilk, ước lượng khoảng tin cậy bằng phân phối t-Student và phân tích hồi quy tuyến tính đơn nhằm đánh giá mối quan hệ giữa tổng giờ kéo trong năm và tuổi thọ dây giềng. Kết quả cho thấy tuổi thọ trung bình của dây giềng phao ứng với khoảng tin cậy 90% là từ 9,58 đến 11,01 tháng. Trong khi đó, con số này ở giềng chì là từ 8,51 đến 9,84 tháng. Mô hình hồi quy giải thích khoảng 86% đến 87% biến động tuổi thọ của giềng phao và giềng chì thông qua biến tổng giờ kéo. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp ước tính thời gian sử dụng hợp lý của dây giềng trong nghề lưới kéo đôi tầng đáy, góp phần tối ưu hóa chi phí bảo dưỡng ngư cụ, nâng cao hiệu quả khai thác và hạn chế nguy cơ tai nạn do đứt dây giềng.</em></p> <p><strong>Từ khóa:</strong> Lưới kéo đôi, giềng, tuổi thọ.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study aims to analyze and estimate the lifespan of head rope and ground rope used in bottom pair trawl fisheries in North Nha Trang Ward, Khanh Hoa Province. Data were collected through retrospective interviews with 17 bottom pair-trawl vessel owners regarding fishing gear usage and fishing intensity during the period of 2024–2025. Statistical analyses were conducted using R software, including the Shapiro–Wilk normality test, confidence interval estimation using the Student’s t-distribution, and simple linear regression analysis to examine the relationship between total annual towing hours and ropes’ lifespan. The results show that the average lifespan of the head rope with a 90% confidence interval ranging from 9.58 to 11.01 months. Meanwhile, the average lifespan of the ground rope was between 8.51 and 9.84 months. The regression models explained approximately 86% to 87% of the variation in lifespan for both head rope and ground rope. The results provide a scientific basis for estimating the appropriate replacement time of rope components in bottom pair trawl fisheries, contributing to the optimization of maintenance costs, improvement of fishing efficiency, and reduction of accidents caused by broken ropes.</em></p> <p><strong>Key words:</strong> Pair trawl, rope, lifespan.</p>Thanh Nguyễn HữuTrần Đức Quyền
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300208910010.53818/jfst.02.2026.639Xác định cường lực và sản lượng khai thác bền vững tối đa tại vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Hưng Yên
https://jfst.vn/index.php/ntu/article/view/657
<p><em>Nghiên cứu xác định sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY) và cường lực khai thác bền vững tối ưu (f<sub>MSY</sub>) cho đội tàu khai thác hải sản ở vùng ven bờ và vùng lộng tỉnh Hưng Yên trên cơ sở số liệu giai đoạn 2020–2026. Kết quả cho thấy quy mô đội tàu giảm nhẹ, từ 642 chiếc năm 2020 xuống còn 604 chiếc năm 2026; nghề lưới rê vẫn chiếm ưu thế nhưng có xu hướng giảm, trong khi nhóm nghề khác và tàu 12–<15 m tăng lên.</em></p> <p><em>Mô hình sản lượng thặng dư Schaefer được sử dụng để ước tính sản lượng khai thác bền vững tối đa và cường lực khai thác tương ứng. Kết quả cho thấy MSY của vùng ven bờ và vùng lộng tỉnh Hưng Yên đạt khoảng 43.969 tấn, tương ứng với số tàu khai thác bền vững tối ưu là 591 tàu. So với ngưỡng MSY, sản lượng khai thác thực tế năm 2025 đạt 44.261 tấn, vượt nhẹ khoảng 292 tấn, tương đương 0,7%; trong khi cường lực khai thác cao hơn mức tối ưu 13 tàu, tương đương 2,2%. Kết quả này cho thấy hoạt động khai thác đã tiệm cận ngưỡng bền vững, đồng thời phản ánh áp lực khai thác đáng chú ý lên nguồn lợi hải sản ở vùng ven bờ và vùng lộng, đặc biệt trong bối cảnh cường lực phân bố chưa hợp lý giữa các nhóm nghề.</em></p> <p><strong>Từ khóa: </strong>Cường lực khai thác bền vững tối ưu; mô hình Schaefer; sản lượng khai thác bền vững tối đa; vùng ven bờ và vùng lộng tỉnh Hưng Yên.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p><em>This study estimated the maximum sustainable yield (MSY) and maximum sustainable fishing effort (f<sub>MSY</sub>) for the marine fishing fleet operating in the coastal and inshore waters of Hung Yen Province, based on data from 2020 to 2026. The results showed that the fishing fleet slightly decreased from 642 vessels in 2020 to 604 vessels in 2026. Gillnets remained the dominant fishing gear but showed a decreasing trend, whereas other fishing gears and vessels in the 12–<15 m length group increased.</em></p> <p><em>The Schaefer surplus production model was applied to estimate MSY and the corresponding f<sub>MSY</sub>. The estimated MSY for the coastal and nearshore waters of Hung Yen Province was approximately 43,969 tons, corresponding to an f<sub>MSY</sub> of 591 vessels. Compared with the MSY threshold, the actual catch in 2025 reached 44,261 tons, exceeding MSY by about 292 tons, equivalent to 0.7%; meanwhile, fishing effort was 13 vessels, or 2.2%, higher than f<sub>MSY</sub>. These results indicate that fishing activities have approached the sustainable threshold and reflect notable fishing pressure on marine resources in coastal and nearshore waters, particularly in the context of an uneven distribution of fishing effort among gear groups.</em></p> <p><strong>Keywords: </strong>Maximum sustainable fishing effort (MSY); maximum sustainable yield (f<sub>MSY</sub>); Schaefer model; coastal and nearshore waters.</p>Nguyễn Phi ToànĐỗ Văn ThànhPhạm Thị Hiền Hòa
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy Sản, Trường Đại học Nha Trang
2026-06-302026-06-300210111410.53818/jfst.02.2026.657