##plugins.themes.huaf_theme.article.main##
Tóm tắt
Nghiên cứu xác định mật độ nuôi phù hợp cho cá mú lai (Epinephelus lanceolatus ♂ × E. coioides ♀) giai đoạn giống nuôi lồng biển - vấn đề hiện còn rất ít thông tin. Thí nghiệm 60 ngày tại Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn mật độ (25, 30, 35 và 45 con/m³), 4 lần lặp (16 giai lưới 8 m³). Cá ban đầu 12,23 ± 0,72 g/con, được cho ăn thức ăn viên công nghiệp (46% protein thô) đến no biểu kiến, 3 lần/ngày, không phân cỡ trong suốt thí nghiệm. Sinh trưởng cá thể giảm tuyến tính theo mật độ (P < 0,001): khối lượng cuối ở 25–35 con/m³ (74,91–83,18 g/con) không khác biệt nhưng cao hơn có ý nghĩa so với 45 con/m³ (56,22 g/con). Ngược lại, tỷ lệ sống, hệ số biến thiên khối lượng (CVW), hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và sinh khối thu hoạch biến động phi tuyến theo mật độ (thành phần bậc hai, P ≤ 0,006), với các điểm tối ưu hội tụ trong khoảng 29–35 con/m³. Mật độ 30 con/m³ cho tỷ lệ sống cao nhất (85,63%), đàn cá đồng đều nhất (CVW = 18,02%) và FCR thấp nhất (2,18); mật độ 35 con/m³ cho sinh khối cao nhất (2,16 kg/m³). Đáng chú ý, mật độ thấp nhất (25 con/m³) không tối ưu: tỷ lệ sống thấp hơn và phân hóa kích cỡ cao hơn 30 con/m³ (P < 0,05). CVW tương quan nghịch chặt với tỷ lệ sống, gợi ý phân hóa kích cỡ là cơ chế trung gian gây hao hụt. Mật độ 45 con/m³ kém nhất ở mọi chỉ tiêu (67,50%; 28,47%; 2,81), cần thêm 64,8% thức ăn và gấp 2,15 lần số cá giống cho mỗi kg cá sản xuất nhưng không tăng sinh khối trên đơn vị thể tích. Khuyến nghị nuôi ở mật độ 30–35 con/m³: chọn ≈30 con/m³ khi ưu tiên tỷ lệ sống, độ đồng đều và hiệu quả sử dụng thức ăn, ≈35 con/m³ khi thể tích lồng là yếu tố giới hạn.
Từ khóa: Cá mú lai, Epinephelus lanceolatus × E. coioides, mật độ nuôi, nuôi lồng biển, độ đồng đều kích cỡ, hiệu quả sử dụng thức ăn.
Abstract
This study determined the appropriate stocking density for juvenile hybrid grouper (Epinephelus lanceolatus ♂ × E. coioides ♀) reared in marine cages, for which information remains scarce. A 60-day trial in Nha Trang Bay, Khanh Hoa province, followed a completely randomised design with four stocking densities (25, 30, 35 and 45 fish/m³) and four replicates each (16 net hapas of 8 m³). Fish (initial weight 12.23 ± 0.72 g) were fed a commercial pellet diet (46% crude protein) to apparent satiation three times daily and were not graded throughout the trial. Individual growth declined linearly with density (P < 0.001): final weight at 25–35 fish/m³ (74.91–83.18 g/fish) did not differ among densities but was significantly higher than at 45 fish/m³ (56.22 g/fish). In contrast, survival, coefficient of variation in body weight (CVW), feed conversion ratio (FCR) and harvested biomass responded non-linearly to density (significant quadratic component, P ≤ 0.006), with optima converging within 29–35 fish/m³. The 30 fish/m³ treatment achieved the highest survival (85.63%), the most uniform population (CVW = 18.02%) and the lowest FCR (2.18), whereas 35 fish/m³ yielded the highest biomass (2.16 kg/m³). Notably, the lowest density (25 fish/m³) was not optimal, showing lower survival and greater size heterogeneity than 30 fish/m³ (P < 0.05). CVW was strongly negatively correlated with survival, suggesting that size divergence mediates mortality. The highest density (45 fish/m³) performed worst for all traits (67.50%; 28.47%; 2.81), requiring 64.8% more feed and 2.15 times more juveniles per kg of fish produced without any gain in biomass per unit volume. Stocking at 30–35 fish/m³ is therefore recommended: ≈30 fish/m³ when survival, size uniformity and feed efficiency are prioritised, and ≈35 fish/m³ when cage volume is limiting.
Keywords: Hybrid grouper, Epinephelus lanceolatus × E. coioides, stocking density, marine cage culture, size uniformity, feed utilisation.