##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Tóm tắt

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của pha mặt trăng đến thành phần loài, tần suất xuất hiện và sản lượng khai thác của nghề lưới vây sử dụng chà. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2024 tại vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 02 chuyến biển và được phân tích theo 3 pha mặt trăng gồm trăng cuối tháng, trăng non và trăng đầu tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 07 loài cá nổi chính được khai thác, trong đó cá nục thuôn và cá ngừ chấm chiếm ưu thế về sản lượng. Tổng sản lượng khai thác thu được là 70.700 kg, năng suất khai thác trung bình cá nục thuôn cao nhất đạt 494,1 kg/mẻ, phần lớn chiều dài các loài cá (FL) khai thác được nằm trong khoảng thương phẩm dao động từ 20 ÷ 41 cm. Thành phần loài chiếm tỷ lệ cao nhất trong mỗi pha mặt trăng là: cá ngừ chấm (36% ở pha trăng cuối tháng và 30% ở pha trăng non) và cá nục thuôn (35% ở pha trăng đầu tháng). Cá ngừ chấm chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) trong pha trăng cuối tháng và pha trăng non; cá nục thuôn chiếm tỷ lệ xuất hiện cao nhất (100%) trong pha trăng đầu tháng. Kết quả kiểm định Kruskal-Wallis cho thấy các pha mặt trăng không có ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng khai thác bằng lưới vây.


Từ khóa: Pha mặt trăng, lưới vây, Đông Nam Bộ.


Abstract


This study was conducted to assess the influence of lunar phases on species composition, occurrence frequency, and catch yields of purse seine fisheries using FAD. The study was conducted from September to November 2024 in the Southeastern region of Vietnam. Data were collected from two fishing trips and analyzed according to three lunar phases: the third quarter, the new moon, and the first quarter. The research results show that 7 main pelagic fish species were exploited, with slender scad and little tuna dominating in terms of catch volume. The total catch was 70700 kg, with the highest average catch yield for slender scad being 494.1 kg per batch. The majority of the fish caught were within the marketable length range of 20 ÷ 41 cm. The most abundant species composition in each lunar phase was: little tuna (36% in the third quarter and 30% in the new moon) and slender scad (35% in the first quarter). Little tuna had the highest incidence (100%) in the third quarter and the new moon phases; Slender scad had the highest incidence (100%) in the first quarter phase. The Kruskal-Wallis test results show that lunar phases do not significantly affect the yield of purse seine.


Keywords: Moon phase, purse seine, Southeast region.

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

Chuyên mục
Khoa học công nghệ thủy sản
Tiểu sử của Tác giả

Phạm Sỹ Tấn*

Trung tâm Nghiên cứu hải sản phía Bắc, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Nguyễn Phi Toàn

Trung tâm Nghiên cứu hải sản phía Bắc, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Vũ Kế Nghiệp

Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang