##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Tóm tắt

        Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng các loại thức thức ăn khác nhau bao gồm 5 nghiệm thức (NT) (i) NT1: 100% ấu trùng Artemia, (ii) NT2: 100% copepod, (iii): 100% thức ăn tổng hợp, (iv) NT4: 50% ấu trùng Artemia+ 50% thức ăn tổng hợp, (v) NT5: 50% copepod +50% thức ăn tổng hợp và 4 nghiệm thức mật độ nuôi lần lượt 500, 1000, 1500 và 2000 con/m3 đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ phân đàn và tỷ lệ dị hình của cá song da báo trong giai đoạn con giống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nghiệm thức sử dụng kết hợp 50% copepod và 50% thức ăn tổng hợp NRD-INVE (nghiệm thức 5) đã đạt tỷ lệ sống cao nhất (68,6%) cùng với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng ngày tốt nhất (0,67 mm/ngày). Ngược lại, nghiệm thức chỉ sử dụng thức ăn tổng hợp (nghiệm thức 3) cho tỷ lệ sống thấp nhất (22,2%). Ngoài ra, khi nuôi với mật độ 1000 con/m³, tỷ lệ sống cao nhất đạt được là 72,1%, trong khi nuôi với mật độ 500 con/m³ cho tỷ lệ phân đàn và dị hình thấp nhất. Qua đó, kết quả nghiên cứu khuyến nghị rằng giai đoạn ương giống cá song da báo đạt hiệu quả cao nhất khi sử dụng chế độ thức ăn kết hợp 50% copepod và 50% thức ăn tổng hợp, với mật độ nuôi 1000 con/m³.


Từ khoá: Cá song da báo (Plectropomus leopardus), thức ăn, mật độ ương, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, hệ số phân đàn, tỷ lệ dị hình

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

Chuyên mục
Khoa học công nghệ thủy sản
Tiểu sử của Tác giả

Nguyễn Anh Hiếu

Viện Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

Nguyễn Văn Hùng, 0914703899

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III

Nguyễn Hữu Ninh

Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Phạm Quốc Hùng

Viện Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang