##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Tóm tắt

Tần suất cho ăn là một trong những yếu tố kỹ thuật quan trọng quyết định hiệu quả ương nuôi cá biển, song thông tin về cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống ở Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tần suất cho ăn phù hợp cho cá hồng Mỹ giai đoạn giống. Cá giống (kích cỡ ban đầu 3,91 ± 0,13 cm và 0,76 ± 0,09 g) được bố trí ngẫu nhiên theo năm nghiệm thức tương ứng với các tần suất cho ăn 2, 3, 4, 5 và 6 lần/ngày, mỗi nghiệm thức lặp lại ba lần, và được nuôi trong thời gian 42 ngày. Kết quả cho thấy tần suất cho ăn ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến sinh trưởng, độ đồng đều đàn cá và hệ số chuyển hóa thức ăn (P < 0,05), nhưng không tác động đến tỷ lệ sống, tỷ lệ dị hình và hệ số điều kiện (P > 0,05). Sinh trưởng và độ đồng đều tăng dần khi nâng tần suất từ 2 lên 5 lần/ngày, sau đó suy giảm ở mức 6 lần/ngày. Phân tích hồi quy bậc hai xác định tần suất tối ưu cho sinh trưởng đạt khoảng 5,2 lần/ngày, trong khi hệ số chuyển hóa thức ăn tối ưu ở mức thấp hơn (khoảng 4,4 lần/ngày). Cân bằng giữa sinh trưởng, độ đồng đều và hiệu quả sử dụng thức ăn, nghiên cứu khuyến nghị áp dụng tần suất cho ăn 4–5 lần/ngày cho cá hồng Mỹ giai đoạn giống nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật và kinh tế trong sản xuất giống.


Từ khóa: Độ đồng đều, hiệu quả sử dụng thức ăn, hệ số chuyển hóa thức ăn, ương nuôi cá biển, sản xuất giống.


Abstract


Feeding frequency is an important husbandry factor governing the rearing efficiency of marine fish; however, information on juvenile red drum (Sciaenops ocellatus) in Vietnam remains scarce. This study was conducted to determine the appropriate feeding frequency for juvenile red drum. Juveniles (initial size of 3.91 ± 0.13 cm and 0.76 ± 0.09 g) were randomly allocated to five treatments corresponding to feeding frequencies of 2, 3, 4, 5 and 6 times per day, each with three replicates, and reared for 42 days. The results showed that feeding frequency significantly affected growth performance, size uniformity and feed conversion ratio (P < 0.05), but did not significantly affect survival, deformity rate and condition factor (P > 0.05). Growth and uniformity increased progressively as feeding frequency rose from 2 to 5 times per day and then declined at 6 times per day. Second-order polynomial regression identified an optimal feeding frequency of approximately 5.2 times per day for growth. In contrast, the optimal feed conversion ratio occurred at a lower level (approximately 4.4 times per day). Balancing growth, uniformity and feed utilization, this study recommends a feeding frequency of 4–5 times per day for juvenile red drum to enhance technical and economic efficiency in seed production.


Keywords: Size uniformity, feed utilization, feed conversion ratio, marine fish rearing, seed production.

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

Chuyên mục
Khoa học công nghệ thủy sản
Tiểu sử của Tác giả

Trần Quang Đại

Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang

Phan Trọng Phú

Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang

Đoàn Xuân Nam

Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang

Nguyễn Đắc Kiên

Khoa Kỹ thuật Hóa học và Môi trường, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang

Đặng Trung Thành

Khoa Công nghệ Thực phẩm, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang

Trần Văn Dũng*

Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang