##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định thành phần loài, mật độ và phân bố của trứng cá cá con (TCCC) tại vùng biển ven bờ và vùng lộng phía Nam thành phố Đà Nẵng năm 2025. Mẫu TCCC được thu thập tại 20 trạm khảo sát trong hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam bằng lưới kéo tầng mặt và tầng thẳng đứng; thành phần loài TCCC được xác định dựa trên đặc điểm hình thái, kết hợp đối chiếu các tài liệu định loại chuyên ngành. Kết quả ghi nhận 36 họ và 38 loài/nhóm loài cá biển. Thành phần nguồn giống chủ yếu gồm các nhóm cá nổi nhỏ, cá đáy và cá ven bờ, với họ cá trỏng (Engraulidae) chiếm ưu thế ở giai đoạn trứng, trong khi họ cá bống trắng (Gobiidae), cá chai (Platycephalidae), cá khế (Carangidae) và cá lượng (Nemipteridae) chiếm ưu thế ở giai đoạn cá con. Mật độ trung bình của trứng cá và cá con lần lượt là 2.068 trứng/1.000 m³ và 498 cá thể/1.000 m³. Trứng cá phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ phía Nam, trong khi khu vực tập trung cá con có sự thay đổi giữa hai mùa gió; vùng ven bờ phía Nam và vùng lộng là khu vực tập trung nguồn giống TCCC, là cơ sở quan trọng để xác định khu vực sinh sản, ương dưỡng và phục vụ quản lý nghề cá bền vững.


Từ khóa: Mật độ, mùa gió, phân bố, thành phố Đà Nẵng, trứng cá cá con .


Abstract


The study was conducted to determine the species composition, density, and distribution of fish eggs and larvae in the coastal and inshore waters of southern Da Nang City in 2025. Fish eggs and larvae were collected at 20 survey stations during the Northeast and Southwest monsoon seasons using surface and vertical tow nets. Species composition was identified based on morphological characteristics in combination with specialized taxonomic identification references. A total of 36 families and 38 fish species or species groups were recorded. The ichthyoplankton assemblage mainly comprised small pelagic, demersal, and coastal fish groups. The family Engraulidae was dominant at the egg stage, whereas Gobiidae, Platycephalidae, Carangidae, and Nemipteridae were dominant at the larval stage. The mean densities of fish eggs and larvae were 2,068 eggs/1,000 m³ and 498 individuals/1,000 m³, respectively. Fish eggs were mainly concentrated in the southern coastal area, while larval concentration areas varied between the two monsoon seasons. The southern coastal and inshore areas were important concentration areas for fish eggs and larvae, providing a basis for identifying potential spawning and nursery grounds and supporting sustainable fisheries management in the region.


Keywords: Density, monsoon seasons, spatial distribution, Da Nang City, fish eggs and larvae.

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

Chuyên mục
Khoa học công nghệ thủy sản
Tiểu sử của Tác giả

Trịnh Thị Trà

Trung tâm nghiên cứu hải sản phía Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Phạm Quốc Huy

Trung tâm nghiên cứu hải sản phía Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Phạm Xuân Thái

Trung tâm nghiên cứu hải sản phía Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

Nguyễn Trọng Lương

Khoa Khoa học Thủy sản, Trường Thủy sản và Khoa học sự sống, Trường Đại học Nha Trang

Cao Văn Hùng*

Trung tâm nghiên cứu hải sản phía Nam, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam