##plugins.themes.huaf_theme.article.main##

Tóm tắt

Hormone HCG được sử dụng tiêm 2 lần cho cá cái: 300 UI/kg cá (lần 1), 500 UI/kg cá (lần 2); cá đực chỉ tiêm 01 lần 400 UI/kg cá. 03 phương pháp thụ tinh được sử dụng gồm: thụ tinh khô (tinh + trứng), thụ tinh ướt (tinh + nước + trứng) và thụ tinh tự nhiên (đẻ tự nhiên không vuốt tinh và trứng). Kết quả cho thấy thụ tinh ướt có tỷ lệ thụ tinh đạt cao nhất 91,81%, tiếp đến là phương pháp thụ tinh khô đạt 88,44% và thấp nhất là phương pháp thụ tinh tự nhiên đạt 75,92%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ thụ tinh giữa thụ tinh khô và thụ tinh ướt (P>0,05), tuy nhiên có sự khác biệt lớn giữa 2 phương pháp thụ tinh này so với thụ tinh tự nhiên (P<0,05). Không có sai khác có ý nghĩa giữa 3 phương pháp thụ tinh đối với tỷ lệ nở của cá gáy (P>0,05). Phương pháp thụ tinh ướt được sử dụng trong thí nghiệm mật độ. Thí nghiệm bố trí ở 03 mật độ ấp trứng khác nhau: 1.000 trứng/L; 1.500 trứng/L và 2.000 trứng/L. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian phát triển phôi của cá gáy dao động từ 14,10 giờ đến 14,50 giờ, sau đó trứng nở thành cá bột. Không có sự khác biệt về thời gian phát triển phôi ở các mật độ khác nhau (P>0,05). Tỷ lệ nở đạt cao nhất ở mật độ ấp 1.000 trứng/L (90,33%), tiếp theo là mật độ ấp 1.500 trứng/L (90,08%) và không có sự khác biệt lớn giữa 02 mật độ này (P>0,05), tuy nhiên có sự khác biệt thống kê giữa 02 mật độ này so với mật độ 2.000 trứng/L (87,84%; P<0,05). Tương tự tỷ lệ nở, tỷ lệ sống của cá bột 5 ngày tuổi đạt cao nhất ở mật độ 1.000 trứng/L (48,51%), tiếp đến mật độ 1.500 trứng/L (48,14%), không có sử khác biệt giữa 02 mật độ ấp này (P>0,05). Tỷ lệ sống đạt thấp nhất ở mật độ ấp 2.000 trứng/L (46,14%) và có khác biệt thống kê so với 02 mật độ trên (P<0,05). Tỷ lệ cá dị hình ở các nghiệm thức dao động 3,23 3,72%, không có sự khác biệt thống kê giữa mật độ ấp 1.000 trứng/L và 1.500 trứng/L (P>0,05). Tuy nhiên, có sự khác biệt về tỷ lệ dị hình ở 02 mật độ ấp này so với mật độ ấp 2.000 trứng/L (P<0,05). Phương pháp thụ tinh ướt và ấp trứng ở mật độ 1.500 trứng/L mang lại hiệu quả cao trong sản xuất giống nhân tạo so với các phương pháp khác được sử dụng trong nghiên cứu này.


Từ khóa: Cá gáy (Lethrinus lentjan), phương pháp thụ tinh, mật độ ấp trứng

##plugins.themes.huaf_theme.article.details##

Chuyên mục
Khoa học công nghệ thủy sản
Tiểu sử của Tác giả

Trương Hà Phương

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

Nguyễn Văn Dũng, a:1:{s:5:"vi_VN";s:0:"";}

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

Lê Thị Thu Hương

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III